Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhiễm trùng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhiễm trùng. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016
NHIỄM TRÙNG HUYẾT TỪ ĐƯỜNG NIỆU
Nhiễm trùng huyết do vi trùng (bacterial sepsis) là tình trạng có vi trùng trong máu và có triệu chứng có hay không có tổn thương cơ quan. Được định nghĩa như là có NHIỄM TRÙNG và có HỘI CHỨNG ĐÁP ỨNG VIÊM TOÀN THÂN. Nhiễm trùng huyết nặng đó là tình trạng sốc nhiễm trùng huyết, có tổn thương cơ quan.
Thứ Ba, 24 tháng 12, 2013
VIÊM TAM GIÁC BÀNG QUANG
Tam giác bàng quang là vùng nằm giữa hai miệng niệu quản, hình tam giác có giới hạn là hai miệng niệu quản và miệng niệu đạo trong. Viêm tam giác là sự tăng sản vảy không sừng hóa của tế bào niêm mạc (nonkeratinizing squamous metaplastic) tế bào niêm mạc này là tế bào chuyển tiếp, được mô tả đầu tiên bới Heymann năm 1905 là cystitis trigoni. Hay trong y văn cũng có thể gọi là viêm tam giác màng giả (pseudomembranous trigonitis) hay bất sản âm đạo (vaginal metaplasia).
Thường không có gì đặc biệt, không có triệu chứng vì đây là bệnh được chẩn đoán thông qua soi bàng quang. Thường nếu có triệu chứng là những triệu chứng kích thích, tiểu nhiều lần, tiểu gấp và tiểu khó, nhiễm trùng tiểu tái đi tái lại đau vùng chậu kéo dài.
Khám lâm sàng thường không có gì đặc biệt, chủ yếu là để loại trừ những bệnh khác.
Nguyên nhân thường không được biết rõ.
Thử tổng phân tích nước tiểu và cấy nước tiểu để loại trừ nhiễm trùng tiểu, đặc biệt làm trước khi soi bàng quang.
Siêu âm bụng có thể thấy hình ảnh bàng quang thàng dầy hoặc cổ bàng quang dầy.
Soi bàng quang đặc biệt giúp ích chẩn đoán thầy những mảng sần trắng vùng tam giác bàng quang, có ranh giới rõ ràng, phất phơ trong bàng quang.
Sinh thiết thường không cần thiết tuy nhiên nên sinh thiết trong những trường hợp có tiểu máu hay những mảng trắng này có ở những vị trí khác ngoài tam giác bàng quang, bệnh nhân nhi, vì nguy cơ sừng hóa chuyển ác tính cao.
Sinh thiết có hình ảnh bất sản tế bào vảy không sừng hóa (nonkeratinzing squamous metaplasia), biểu mô vảy lát tầng. Tế bào đáy nhân to có nhiều không bào và chromatin.
Viêm tam giác bàng quang không có triệu chứng thì không cần điều trị. Trong một nghiên cứu thấy ở người viêm tam giác bàng quang có triệu chứng như tiểu nhiều, đau vùng chậu mạn tính, nhiễm trùng tiểu tái phát. Được điều trị với doxycycline 100mg uống ngày 2 lần trong 2 tuần, sau đó ngày 1 viêm 100mg cho 2 tuần tiếp theo. Kèm theo thuốc đặt trong âm đạo. Và sử dụng bao cao su trong suốt quá trình điều trị. Kết quả là 30% bệnh nhân xem như hết, 41% xem như triệu chứng có cải thiện.
Điều trị ngoại khoa đặc biệt ở những bệnh nhân có hội chứng niệu đạo, hay sinh thiết có bất sản vảy mà không đáp ứng với điều trị nội khoa. Kết quả cũng có cải thiện.
Hiện nay có nghiên cứu so sánh bơm kháng sinh clarithromycine và hyaluronate 40 mg (Cystistat) vào bàng quang. Tuy nhiên, hyaluronate không được chấp nhập ở Hoa Kỳ bởi FDA.
Viêm tam giác bàng quang là một bệnh kích thích, nên tránh tối đa việc đặt thông tiểu không cần thiết. Bất sản vảy (Nonkeratinizing squamous metaplasia) là dạng lành tính không có nguy cơ ung thư. Tuy nhiên dạng keratin hóa (nonkeratinizing squamous metaplasia) phải theo dỏi cẩn thận hơn .
Triệu chứng và khám lâm sàng
Thường không có gì đặc biệt, không có triệu chứng vì đây là bệnh được chẩn đoán thông qua soi bàng quang. Thường nếu có triệu chứng là những triệu chứng kích thích, tiểu nhiều lần, tiểu gấp và tiểu khó, nhiễm trùng tiểu tái đi tái lại đau vùng chậu kéo dài.
Khám lâm sàng thường không có gì đặc biệt, chủ yếu là để loại trừ những bệnh khác.
Nguyên nhân thường không được biết rõ.
Cận lâm sàng
Thử tổng phân tích nước tiểu và cấy nước tiểu để loại trừ nhiễm trùng tiểu, đặc biệt làm trước khi soi bàng quang.
Siêu âm bụng có thể thấy hình ảnh bàng quang thàng dầy hoặc cổ bàng quang dầy.
Soi bàng quang đặc biệt giúp ích chẩn đoán thầy những mảng sần trắng vùng tam giác bàng quang, có ranh giới rõ ràng, phất phơ trong bàng quang.
Hình ảnh viêm tam giác bàng quang
Sinh thiết thường không cần thiết tuy nhiên nên sinh thiết trong những trường hợp có tiểu máu hay những mảng trắng này có ở những vị trí khác ngoài tam giác bàng quang, bệnh nhân nhi, vì nguy cơ sừng hóa chuyển ác tính cao.
Sinh thiết có hình ảnh bất sản tế bào vảy không sừng hóa (nonkeratinzing squamous metaplasia), biểu mô vảy lát tầng. Tế bào đáy nhân to có nhiều không bào và chromatin.
Giải phẫu bệnh viêm tam giác bàng quang
Điều trị
Viêm tam giác bàng quang không có triệu chứng thì không cần điều trị. Trong một nghiên cứu thấy ở người viêm tam giác bàng quang có triệu chứng như tiểu nhiều, đau vùng chậu mạn tính, nhiễm trùng tiểu tái phát. Được điều trị với doxycycline 100mg uống ngày 2 lần trong 2 tuần, sau đó ngày 1 viêm 100mg cho 2 tuần tiếp theo. Kèm theo thuốc đặt trong âm đạo. Và sử dụng bao cao su trong suốt quá trình điều trị. Kết quả là 30% bệnh nhân xem như hết, 41% xem như triệu chứng có cải thiện.
Điều trị ngoại khoa đặc biệt ở những bệnh nhân có hội chứng niệu đạo, hay sinh thiết có bất sản vảy mà không đáp ứng với điều trị nội khoa. Kết quả cũng có cải thiện.
Hiện nay có nghiên cứu so sánh bơm kháng sinh clarithromycine và hyaluronate 40 mg (Cystistat) vào bàng quang. Tuy nhiên, hyaluronate không được chấp nhập ở Hoa Kỳ bởi FDA.
Theo dõi và tiên lượng
Viêm tam giác bàng quang là một bệnh kích thích, nên tránh tối đa việc đặt thông tiểu không cần thiết. Bất sản vảy (Nonkeratinizing squamous metaplasia) là dạng lành tính không có nguy cơ ung thư. Tuy nhiên dạng keratin hóa (nonkeratinizing squamous metaplasia) phải theo dỏi cẩn thận hơn .
Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013
Viêm niệu đạo
Bệnh viêm niệu đạo là tình trạng viêm nhiễm của niệu đạo. Bệnh thường do lây qua đường tình dục. Thường có hai loại viêm niệu đạo do lậu và viêm niệu đạo không do lậu.
Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013
Nhiễm trùng tiểu và phụ nữ mang thai
Trong thai kỳ cơ thể thai phụ thay đổi vì hóc-môn thay đổi, và thai làm tử cung lớn nên tắc nghẽn hay trào ngược niệu quản. Niệu đạo phụ nữ ngắn kèm yếu tố vệ sinh kém đi trong thời kỳ mang thai mà dễ bị nhiễm trùng tiểu. Phụ nữ mang thai mà nhiễm trùng tiểu phải xem như là người đang bị suy giảm miễn dịch bị nhiễm trùng tiểu nên phải lưu ý đặc biệt.
Định nghĩa
Nhiễm trùng tiểu là khi có ít nhất 100.000 vi khuẩn trong 1 ml nước tiểu ở bệnh nhân không có triệu chứng, hay chỉ cần 100 vi khuẩn trong ml nước tiểu kèm với tiểu mủ (có trên 7 bạch cầu/ml nước tiểu) ở người có triệu chứng.
Vi trùng nước tiểu mà không có triệu chứng
Được định nghĩa như là có hơn 100.000 vi trùng trong 1 ml nước tiểu mà bệnh nhân không có triệu chứng, trong 2 lần thử nước tiểu liên tiếp. Nếu không có điều trị thì sẽ chuyển sang viêm bàng quang 40%, 25-30% viêm đài bểthận cấp.
Viêm bàng quang cấp
Có thể do vi trùng và không do vi trùng. Chiếm 1% ở phụ nữ có thai, mà trước đó 60% có thể thử nước tiểu là bình thường. Dấu hiệu là tiểu gắt, tiểu đau trên xương mu, tiếu máu , tiểu thường xuyên và tiểu đêm. Biến chứng viêm đường tiểu trên 15-50%.
Viêm đài bể thận cấp
Chiếm 2% phụ nữ có thai. Triệu chứng là sốt, đau lưng, ấn vùng hông lưng đau, tiểu nhiều lần, buồn nôn và nôn.
Nguyên nhân
Vi trùng E coli chiếm 90% các trường hợp. Các vi trùng khác là Klebsiella pneumoniae(5%), Proteus mirabilis (5%), Enterobacter species(3%), Staphylococcus saprophyticus (2%) Group B beta-hemolytic Streptococcus (GBS;1%) Proteus species (2%).
- Tiền sản giật : dễ bị nguy cơ nhiễm trùng tiểu
- Mổ bắt con: dễ bị nguy cơ nhiễm trùng tiểu 2,7 lần
Triệu chứng
Hỏi bệnh sử: bệnh nhân có tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu nhiều lần, tiểu đau trên xương mu, tiểu đêm, tiếu máu. Nếu bệnh nhân có viêm đài bể thận cấp thì triệu chứng rầm rộ hơn như: sốt nhiệt độ trên 39,5 độ C, đau góc sường lưng, buồn nôn, nôn chán ăn, mệt mỏi.
Khám lâm sàng: Bệnh nhân có những dấu hiệu liên quan đến có thai. nếu nhiễm trùng tiểu không có triệu chứng có thể khám không thấy gì đặc biệt. Khám ấn vùng trên xương mu hoặc hông lưng đau hoặc đề kháng. Khám vùng chậu xem có viêm cổ tử cung hay viêm âm đạo không. Không quên nghe tim thai tùy vào tuổi thai.
Cận lâm sàng
Thử máu: công thức máu, điện giải đồ, creatinin máu , BUN
Thử nước tiểu:
Tất cả thai phụ nên thử nước tiểu lúc mang thai được 12-16 tuần. Để có thể phát hiện những trường hợp nhiễm trùng tiểu không triệu chứng cũng như có thể phát hiện đường trong nước tiểu. Nên lấy nước tiểu giữa dòng với kỹ thuật lấy nước tiểu đúng đắng.
Nếu bệnh nhân không tiểu được nên đặt thông tiểu.
Cấy nước tiểu
Được chỉ định trong những trương hợp sau đây
- Nhiễm trùng tiểu tái phát
- Viêm đài bể thận cấp
- Không đáp ứng với điều trị ban đầu
- Gần đây có đặt thông, hay thao tác qua ngã niệu đạo
- Bệnh nhân phải nhập viện
Tổng phân tích nước tiểu
Có hiện diện bạch cầu, hồng cầu và Nitrite. Có độ nhạy 97-100% nhưng độ đặc hiệu thấp 25%-67%. Thử nước tiểu bằng que (dipstick) đánh giá nitrite và leucocyte esterase khác với cấy nước tiểu có độ nhạy 50% tới 92% và độc đặc hiệu 86% - 97%.
Siêu âm và x-quang hệ niệu có tiêm cản quang.
Trừ khi có nghi ngờ bất thường giải phẫu học, thông thường đánh giá ban đầu bằng hình ảnh học là không cần thiết. Bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa sau 24-48 giờ thì cần đánh giá hình ảnh học. Trong trường hợp nghi ngờ viêm đài bể thận cấp hay có sỏi tiết niệu. Vì 2 bệnh đó có triệu chứng gần giống nhau. 50-67% sỏi đường tiết niệu phát hiện tình cờ trong thai kỳ có thể tiểu ra ngoài theo đường tự nhiên. Chụp UIV có giới han, chụp sau khi tiêm chất cản quan sau 30 phút cũng được chỉ định nếu nghi ngờ có tắc nghẽn, phát hiện vị trí tắc nghẽn.
Điều trị
Vì có biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và thai, nên điều trị nhiễm trùng tiểu có triệu chứng và không có triệu chứng.
- Kháng sinh thích hợp
- Uống nhiều nước
- Nhập viện nếu trong thể nặng
Biện pháp thay đổi hành vi
Có tác dụng hạn chế nhiễm trùng, chống nhiễm trùng tái phát
- Không tắm ngâm mình trong bồn tắm
- Khi đi vệ sinh, không chùi theo hướng từ sau ra trước, dễ mang vi trùng từ hậu môn lên niệu đạo
- Rửa tay trước khi đi toalét
- Lau khô tầng sinh môn sau vệ sinh
- Sử dụng xà phòng nước chứ không nên xà xà phòng cục
- Rừa quanh niệu đạo trước khi tắm
Kháng sinh cho không có triệu chứng
- Cephalexin 500 mg 4 lần ngày
- Ampicillin 500 mg 4 lần ngày
- Nitrofurantoin 100 mg 2 lần ngày
- Sulfisoxazole 1 g 4 lần ngày
Trong 1, 3, 7, 10-14 ngày tùy theo trường hợp
Viêm đài bể thận cấp
Phải nhập viện, cho kháng sinh tiêm mạch cephalosposin và aminoglycoside. Truyền dịch để bù dịch cho bệnh nhân. Sốt thì sử dụng acetaminophen. Sinh non có thể xảy ra nên phải cẩn thận đặc biệt nếu nhỏ hơn 24 tuần tuổi có thể bị xẩy thai.
Trước khi bệnh nhân xuất viện phải giáo dục, hướng dẫn bệnh nhân cẩn thận
Phẫu thuật
Nếu có tắc nghẽn thì có thể đặt thông JJ ngược dòng, không nên lấy sỏi hay tán sỏi ngoài cơ thể ngay. Nếu phải phẫu thuật thì tốt nhất là tam cá nguyệt thứ hai, vì nếu trong tam cá nguyệt thứ nhất có thể gây xảy thai, tam cá nguyệt thứ 3 thì dễ sinh non.
Tiên lượng
- Hầu hết bệnh nhân có nhiễm trùng tiểu có tiên lượng tốt , ngoài ra có biến chứng nhiễm trùng huyết, suy hô hấp, giảm huyết áp.
- Có thể ảnh hưởng lên thai qua đường nhau thai, nội độc tố vi khuẩn gây tổn thương mạch máu nhau thai làm máu đến não của thai nhi ít đi.
- Nếu không điều trị sẽ sinh non, sinh thiếu cân, thiếu máu, nhiễm trùng ối, tiền sản giật.
- Áp xe quanh thận, suy thận, sốc nhiễm trùng, rối loạn đông máu. Tổn thương phổi chiếm 2% trong thể viêm đài bể thận cấp
Thứ Năm, 14 tháng 2, 2013
Viêm bàng quang ở phụ nữ
Nhiễm trùng tiểu hay thường gặp ở phụ nữ, mà phần lớn là viêm bàng quang. Ngoài ra có những dạng nhiễm trùng tiểu khác, những danh từ khác như viêm đài bể thận cấp là nhiễm trùng tiểu trên, vi trùng trong nước tiểu, nấm trong nước tiểu. Hoặc thể rất nặng là nhiễm trùng huyết do nhiễm trùng tiểu.Thứ Ba, 12 tháng 2, 2013
VIÊM BÀNG QUANG
Viêm bàng quang đó là tình trạng nhiễm trùng tiểu, nhiễm trùng tại vị trí bàng quang, gây ra những hội chứng khác nhau.[1] Nguyên nhân là do nhiễm trùng, nhiễm trùng ở đường tiết niệu.[2]
Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012
Viêm tiền liệt tuyến mãn tính
Viêm tiền liệt tuyến mãn tính (tiếng anh chronic bacterial prostatitis CBP) là bệnh nhiễm trùng tiền liệt tuyến. CBP gây nên những triệu chứng rất phức tạp, tiêu chuẩn chẩn đoán là nhiễm trùng tiểu tái phát, cùng một nguyên nhân gây bệnh. CBP thường lầm lẫn với viêm tiền liệt tuyến không vi trùng (nonbacterial prostatitis), đau vùng chậu mãn tính (chronic pelvic pain syndrome-CPPS), và đau tiền liệt tuyến (prostatodynia)Thứ Bảy, 29 tháng 12, 2012
Viêm tiền liệt tuyến cấp tính
Tiền liệt tuyến là cơ quang ngoài phúc mạc, bao bọc cổ bàng quang và niệu đạo, có trọng lượng khoảng 20 gram ở người khỏe mạnh. Ở người lớn, cơ quan này chia làm 4 vùng: vùng quanh niệu đạo, vùng trung tâm, vùng chuyển tiếp, và vùng ngoại vi. Ung thư tiền liệt tuyến thường có vùng ngoại hơn những vùng khác.Tuy nhiên ếu bệnh viêm thì không rõ vùng nào nhiều hay ít. Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012
Bệnh da không ác tính của cơ quan sinh dục nam
Chủ đề trong bài báo này chia làm 2 nhóm dựa vào biểu hiện lâm sàng ban đầu và bệnh thường gặp nhất. Chủ yếu nhấn mạnh chẩn đoán, điều trị, kết quả điều trị trên lâm sàng.
Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012
Điều trị viêm niệu đạo theo kinh nghiệm
Điều trị theo kinh nghiệm viêm niệu đạo sau đây, bao gồm viêm niệu đạo do lậu và không do lậu, viêm niệu đạo tái phát hay viêm niệu đạo kéo dài, và điều trị cho người bạn tình của người viêm niệu đạo.[1, 2, 3, 4]
Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012
Điều trị nhiễm trùng tiểu ở nam giới, ngắn ngày tốt hơn
Điều trị nhiễm trùng tiểu (NTT) ở nam giới nhiều hơn 7 ngày có thể không giảm NTT tái phát so sánh với điều trị ngắn ngày và có thể gia tăng nguy cơ nhiễm trùng với Clostridium difficile (CDI) theo tạp chí đăng ngày 3 tháng 12 Archives of Internal Medicine.
Trong một lá thơ của các nhà nghiên cứu gửi cùng ngày, những nhà nghiên cứu đề nghị là tầm soát hay điều trị NTT trước các phẫu thuật tim mạch, xưong khớp, hay mạch máu là không cần thiết.
Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012
Thận ứ mủ
Tắt nghẽn đường tiểu khi có hiện diện viêm đài bể thận có thể làm cho ứ đọng bạch cầu, vi trùng, và những chất cặn trong hệ thống tiết niệu, dần dần có thể gây nên ứ mủ thận. Trong tình huống này mủ trong một khối căng, bệnh nhân nhanh chóng thay đổi toàn trạng và trở nên nhiễm trùng. Vì thế nhận biết sớm tình trạng này và điều trị tình trạng nhiễm trùng cấp của thận, đặc biệt ở những bệnh nhân có tắt nghẽn, là một vấn đề quang trọng.
Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012
Bệnh hoại thư Fournier
Hoại thư Fournier được phát hiện năm 1883, do một nhà hoa liễu học người Pháp Jean Alfred Fournier mô tả 5 bệnh nhân nam trẻ có hoại tử tiến triễn vùng bìu và dương vật mà không có nguyên nhân rõ ràng. Sau đó bệnh này được đặt tên là hoại thư (gangrene) Fournier là bệnh viêm cân cơ do nhiều loại vi trùng của vùng tầng sinh môn, xung quanh hậu môn hoặc vùng cơ quan sinh dục. Không giống như Fournier mô tả ban đầu chỉ gặp ở người trẻ mà gặp mọi lứa tuổi. Hoại tử cơ quan sinh dục ngoài của người đàn ông do 2 nhóm nguyên nhân sau đây:
Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012
Lao niệu sinh dục
Lao niệu sinh dục gây ra bởi vi trùng lao Mycobacterium tuberculosis sau lao phổi thông thường vi trùng lao sẽ di chuyển xuống thận và tiền liệt tuyến gây ra tổn thương lao. Tiến triển của tổn thương này gây ra bệnh lý lao niệu sinh dục.
Tổn thương có thể tiến triển rất chậm 15-20 năm không có triệu chứng, mãi cho tới khi tổn thương thông với hệ thống bài tiết. Vì mủ và vi trùng trong hệ thống bài tiết gây nên những triệu chứng kích thích bàng quang.
Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012
Phòng ngừa nhiễm trùng tiểu tái phát
Khoảng 25% phụ nữ viêm bàng quang cấp sẽ bị tái phát. Số lượng cơn tái phát phụ thuộc từng người trung bình 0.3 - 7.6 cơn / năm. Phần lớn nhiễm trùng là do vi trùng từ đường ruột xung quanh miệng niệu đạo.
Phụ nữ phát triễn viêm bàng quang trong vòng 2 tuần sau điều trị thường là giống với vi trùng ban đầu. Phải tìm nguồn lý do làm sao mà nhiễm trùng tồn tại, như bất thường giải phẫu học ( sỏi, áp-xe, hay bệnh nang).
Phụ nữ phát triễn viêm bàng quang trong vòng 2 tuần sau điều trị thường là giống với vi trùng ban đầu. Phải tìm nguồn lý do làm sao mà nhiễm trùng tồn tại, như bất thường giải phẫu học ( sỏi, áp-xe, hay bệnh nang).
Thứ Ba, 13 tháng 11, 2012
Bệnh lây qua đường tình dục
Bệnh lây qua đường tình dục ( tiếng anh sexually transmitted disease, STD hay sexually transmitted infections STI hay venereal diseases VD), là những bệnh có khả năng lây lan rất cao giữa người và người qua hành vi tình dục, bao gồm giao hợp qua âm đạo, tình dục bằng miệng, và tình dục qua hậu môn. Trong quá khứ là bệnh lây qua đường tình dục, hay bệnh hoa liễu nhưng ngày nay người ta dùng từ "những nhiễm trùng lây qua đường tình dục." Có nghĩa rộng hơn, người có thể nhiễm nhưng chưa gọi là bệnh, nhưng lại có khả năng lây cho người khác. Một vài loại có thể lây qua đường tiêm chích, hay mẹ sang con, hay qua sữa. Nhóm bệnh này đã được biết đến hàng trăm năm qua, và ngành học liên quan là hoa liễu học ( venereology)
Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012
Viêm qui đầu
Viêm qui đầu (tiếng Anh: Balanitis) là viêm qui đầu dương vật. Khi bao qui đầu (hoặc da qui đầu) cũng bị ảnh hưởng, nó được gọi là viêm qui đầu – da qui đầu ( balanoposthitis). Phải phân biệt tình trạng đỏ da qui đầu thấy ở các bé trai do viêm da amoniac viêm qui đầu khi bé mang tã.[1]
Viêm mào tinh hoàn
Viêm mào tinh hoàn là một tình trạng khó chịu hoặc đau của mào tinh hoàn, một cấu trúc cong phía trên của tinh hoàn, trong đó tinh trùng trưởng thành và được lưu trữ. Viêm mào tinh hoàn có thể là cấp tính hoặc mãn tính: nếu cấp tính, khởi phát đau tinh hoàn thường được đi kèm với sưng, đỏ, nóng trong bìu, nếu mãn tính, có thể bệnh nhân chỉ có đau. Dù trong hình thức nào, cũng có đau tinh hoàn một hoặc hai bên đau từ nhẹ đến nặng.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)